Vụ Mùa 2021, Công ty cổ phần giống cây trồng, vật nuôi Thừa Thiên Huế và Công ty TNHH Nông nghiệp Quang minh phối hợp với Bộ môn Sinh học Phân tử – Viện Di truyền Nông nghiệp tiến hành đánh giá kiểu hình tính kháng/nhiễm bệnh đạo ôn và bệnh bạc lá của một số giống lúa đang được khảo nghiệm, trình diễn rộng rãi ở các Nam Trung bộ, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc, .
Vật liệu nghiên cứu là giống lúa: HG12 (Công ty giống cây trồng, vật nuôi Thừa Thiên Huế), giống lúa QM68 và QM87 (Công ty TNHH Nông nghiệp Quang Minh). Giống lúa chuẩn nhiễm bệnh đạo ôn LTH và CO39 từ nguồn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) cung cấp. Giống đối chứng âm TN1 (không mang gen kháng bạc lá, rầu nâu) từ nguồn của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI. Nguồn nấm bệnh đạo ôn: 26 nòi nấm đạo ôn chuẩn đại diện cho miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Nguồn vi khuẩn bạc lá: Hai chủng vi khuẩn bạc lá X52 và X59 được chọn lọc từ bộ chủng vi khuẩn bạc lá lưu giữ tại tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Bệnh học Phân tử, Viện Di truyền Nông nghiệp. Những chủng này được chọn thông qua kết quả đánh giá độc tính trên bộ giống lúa chỉ thị mang gen kháng bệnh bạc lá do IRRI cung cấp. Đây là những chủng được phân lập năm 2015, có độc tính cao và ổn định, phù hợp với việc nhận biết đánh giá tính kháng trên các dòng giống lúa. Chủng bạc lá X52 được phân lập trên giống lúa Bắc thơm 7 thu ở Hà Nội, chủng X59 thu trên giống lúa Bắc thơm 7 thu ở Bắc Giang.
Đánh giá tính kháng/nhiễm bệnh đạo ôn bằng lây nhiễm nhân tạo (theo Hayashi & cs., 2009).
Đánh giá khả năng gây bệnh của các nòi nấm bệnh đạo ôn được dựa trên Thang điểm đánh giá bệnh tiêu chuẩn (JIRCAS, 2009)
Đánh giá kiểu hình tính kháng bệnh bạc lá bằng lây nhiễm nhân tạo: Tiến hành đo kích thước vết bệnh sau khi nhiễm 18 ngày. Thang điểm dựa trên thang đánh giá bệnh tiêu chuẩn (IRRI, 2013).
1. Kết quả đánh giá khả năng kháng/nhiễm bệnh đạo ôn của các giống lúa nghiên cứu:
Các giống được đánh giá gồm các giống lúa HG12, QM68 và QM87 hai giống lúa nhiễm chuẩn LTH và CO39.
Khả năng kháng/nhiễm của từng cá thể với từng nòi nấm đạo ôn được ghi nhận theo thang điểm từ 0 -5. Để kết luận khả năng kháng/nhiễm đạo ôn của các dòng/giống lúa nghiên cứu, điểm đánh giá được quy đổi sang ký hiệu Kháng (R) và Nhiễm (S) theo quy ước từ điểm 0 – 2,5: Kháng và điểm 3 – 5: Nhiễm. Kết quả đánh giá tính kháng/nhiễm của các dòng/giống lúa nghiên cứu với 26 nòi nấm đạo ôn có những nhận định sau:
– Hai giống lúa nhiễm chuẩn LTH, CO39 có phản ứng nhiễm với tất cả các nòi nấm đạo ôn;
– Giống lúa QM68 có phản ứng kháng với 20/26 nòi nấm và chỉ bị nhiễm điểm 3 đối với 6 nòi nấm I62 (Nghệ An), I185 (Quảng Bình), I221 (Bắc Cạn), I186 (Quảng Trị), I147 (Hòa Bình) và I2 (Hà Nội);
– Giống lúa HG12 có phản ứng kháng với 10 nòi nấm đạo ôn I19 (Hà Nội), I106 (Phú Thọ), I118 (Thái Nguyên), I201 (Quảng Bình), I175 (Hà Tĩnh), I113 (Vĩnh Phúc), I246 (Quảng Ngãi), I148 (Hòa Bình), I140 (Lai Châu), I219 (Bắc Cạn) và có phản ứng nhiễm điểm 3 với 16 nòi nấm.
– Giống lúa QM87 chỉ có phản ứng kháng với 4 nòi nấm I19 (Hà Nội), I148 (Hòa Bình), I140 (Lai Châu), I1-3 (Hà Tĩnh) và có biểu hiện nhiễm với 22/26 nòi nấm đạo ôn.
2. Kết quả đánh giá khả năng kháng/nhiễm bệnh bạc lá của các giống lúa nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này, các giống lúa Công ty cổ phần giống cây trồng, vật nuôi Thừa Thiên Huế và Công ty TNHH Nông nghiệp Quang Minh cung cấp và giống lúa nhiễm chuẩn TN1 được tiến hành lây nhiễm nhân tạo trên đồng ruộng với hai chủng vi khuẩn X52 (thu thập tại Hà Nội) và X59 (thu thập tại Bắc Giang). Đánh giá kiểu hình tính kháng/nhiễm với các chủng vi khuẩn của các giống lúa nghiên cứu được ghi nhận sau 18 ngày lây nhiễm.
Kết quả lây nhiễm chủng X52 trên giống lúa nhiễm chuẩn TN1, chúng tôi ghi nhận được chiều dài vết bệnh từ 26,0 đến 30,0 cm, với giá trị trung bình 28,28 cm. Theo thang điểm đánh giá tiêu chuẩn của IRRI (SES, IRRI, 2013), kết quả này cho thấy giống lúa TN1 có phản ứng nhiễm nặng với chủng vi khuẩn X52.
Tương tự đối với chủng vi khuẩn X59, giống lúa TN1 cũng có phản ứng nhiễm nặng với chủng vi khuẩn X59 (chiều dài vết bệnh được ghi nhận dao động từ 20,0 – 26,0 cm, với giá trị trung bình 20,9 cm).
Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh của hai chủng vi khuẩn trên giống TN1 cho thấy, hai chủng vi khuẩn X52 và X59 vẫn còn giữ độc tính cao, phù hợp cho việc đánh giá kiểu hình tính kháng/nhiễm đối với các dòng giống lúa nghiên cứu
2.1. Đánh giá kiểu hình tính kháng bệnh bạc lá của dòng lúa HG12 bằng lây nhiễm nhân tạo.
Kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy đối với chủng X52, chiều dài vết bệnh ghi nhận được từ 0,5 đến 2,0 cm, với giá trị trung bình 0,78 cm. Theo thang điểm đánh giá tiêu chuẩn của IRRI (SES, IRRI, 2013), kết quả này cho thấy dòng lúa HG12 có khả năng kháng với chủng vi khuẩn X52.
Kết quả lây nhiễm chủng X59 trên dòng lúa HG12 cho thấy chiều dài vết bệnh thay đổi từ 0,5 đến 1,0 cm, với giá trị trung bình là 0,82 cm. Do vậy, theo thang điểm tiêu chuẩn của IRRI, dòng lúa HG12 có khả năng kháng với chủng X59.
2.2. Đánh giá kiểu hình tính kháng bệnh bạc lá của dòng lúa QM68 bằng lây nhiễm nhân tạo
Kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy đối với chủng X52, chiều dài vết bệnh ghi nhận được từ 0,5 đến 5,0 cm, với giá trị trung bình 2,76 cm. Theo thang điểm đánh giá tiêu chuẩn của IRRI (SES, IRRI, 2013), kết quả này cho thấy dòng lúa QM68 có khả năng kháng với chủng vi khuẩn X52.
Kết quả lây nhiễm chủng X59 trên dòng lúa QM68 cho thấy chiều dài vết bệnh thay đổi từ 0,5 đến 2,5 cm, với giá trị trung bình là 1,3 cm. Do vậy, theo thang điểm tiêu chuẩn của IRRI, dòng lúa QM68 có khả năng kháng với chủng X59.
2.3. Đánh giá kiểu hình tính kháng bệnh bạc lá của dòng lúa QM87 bằng lây nhiễm nhân tạo
Kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy đối với chủng X52, chiều dài vết bệnh ghi nhận được từ 12,0 đến 24,0 cm, với giá trị trung bình 17,04 cm. Theo thang điểm đánh giá tiêu chuẩn của IRRI (SES, IRRI, 2013), kết quả này cho thấy dòng lúa QM87 nhiễm với chủng vi khuẩn X52.
Kết quả lây nhiễm chủng X59 trên dòng lúa QM87 cho thấy chiều dài vết bệnh thay đổi từ 13,0 đến 23,0 cm, với giá trị trung bình là 17,0 cm. Do vậy, theo thang điểm tiêu chuẩn của IRRI, dòng lúa QM87 nhiễm với chủng X59.
3. Kết luận:
3.1. Qua kết quả đánh giá khả năng kháng/nhiễm bệnh đạo ôn của 3 giống lúa HG12, QM68 và QM87 do Công ty cổ phần giống cây trồng, vật nuôi Thừa Thiên Huế và Công ty TNHH Nông nghiệp Quang Minh cung cấp bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo với 26 nòi nấm đạo ôn đại diện cho miền Bắc và miền Trung Việt Nam, chúng tôi đưa ra kết luận sau:
– Giống QM68 biểu hiện phản ứng kháng với 20/26 nòi nấm, chỉ nhiễm điểm 3 với 6/26 nòi nấm, do đó dòng lúa này có tiềm năng kháng với bệnh đạo ôn.
– Giống HG12 có phản ứng kháng với 10/26 nòi nấm bệnh đạo ôn và giống QM87 nhiễm bệnh đạo ôn nặng nhất, khi chỉ biểu hiện tính kháng với 4/26 nòi nấm bệnh đạo ôn khi đưa vào lây nhiễm.
3.2. Qua kết quả đánh giá khả năng kháng/nhiễm bệnh bạc lá của 3 giống lúa HG12, QM68 và QM87 do Công ty cổ phần giống cây trồng, vật nuôi Thừa Thiên Huế và Công ty TNHH Nông nghiệp Quang Minh cung cấp bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo với hai chủng vi khuẩn bạc lá thu thập tại Hà Nội và Bắc Giang, chúng tôi đưa ra kết luận sau:
– Giống lúa HG12 và QM68 có biểu hiện tính kháng tốt đối với cả hai chủng vi khuẩn X52 (thu thập tại Hà Nội) và chủng vi khuẩn X59 (thu thập tại Bắc Giang)
– Giống lúa QM87 nhiễm với cả hai chủng vi khuẩn X52 (thu thập tại Hà Nội) và chủng vi khuẩn X59 (thu thập tại Bắc Giang).
Biên tập bởi Nguyễn Bá Ngọc
Ghi chú:
- Giống lúa HG12 của Công ty cổ phần giống cây trồng, vật nuôi Thừa Thiên Huế đã được Cục Trồng trọt-Bộ NN&PTNT cấp bằng bảo hộ và cấp quyết định lưu hành giống các vụ, vùng trồng lúa tại các tỉnh Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên tại số: 191/QĐ-TT-VPPN ngày 22/05/2023 và Quyết định lưu hành số 506/QĐ-TT-CLT ngày 21/12/2023 cho vụ Xuân và vụ Mùa tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Trung du Miền núi phía Bắc.
- Giống lúa QM 68 (Quang Minh 68) của Công ty TNHH Nông nghiệp Quang Minh được Cục Trồng trọt-Bộ NN&PTNT cấp bằng bảo hộ ngày 06/09/2021.
